Mới đây, Bệnh viện Tâm thần Hà Nội tiếp nhận nữ kế toán trẻ được gia đình đưa đến khám do căng thẳng kéo dài. Công việc sổ sách, số liệu báo cáo lớn lĩnh vực ngân hàng, đặc biệt áp lực về tiến độ cao điểm cuối năm nhanh hoàn thành khiến cô bị hụt hơi.
Stress nặng vì KPI
Sau một thời gian, cô gái trẻ này bắt đầu mất ngủ, thường căng thẳng (stress), lo âu. Tình trạng càng trở nên nghiêm trọng mỗi khi cô nghĩ đến việc mở máy tính. Dần dần thể trạng suy kiệt kèm các biểu hiện căng thẳng tâm lý, ăn uống kém, buồn nôn khi đến bữa...
ThS tâm lý Bùi Văn Toàn, Viện Sức khỏe Tâm thần (Bệnh viện Bạch Mai), cho biết tình trạng stress ngày càng phổ biến trong cuộc sống. Nếu không được giải tỏa, stress có thể dẫn đến lo âu, mất ngủ, đặc biệt ở những người có tính cầu toàn. Viện từng tiếp nhận một nữ nhân viên văn phòng mất ngủ kéo dài do áp lực công việc và gia đình. Thời điểm đứa con chuẩn bị thi chuyển cấp, chị được thăng chức nên khối lượng công việc tăng đáng kể, thường làm việc muộn. Trước nhập viện 3 tháng, tình trạng mất ngủ càng tồi tệ kèm mệt mỏi, chán ăn, tâm lý bất an, sợ hãi khi đến giờ đi ngủ. "Mất ngủ ban đầu có thể nhẹ nhưng nếu kéo dài sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe tinh thần, thể chất và chất lượng cuộc sống. Áp lực công việc kéo dài có thể dẫn đến nhiều rối loạn tâm lý nghiêm trọng" - ThS Toàn cảnh báo.

Bác sĩ tư vấn cho một bệnh nhân khám bệnh lý về sức khỏe tâm thần
Theo BS Trần Quyết Thắng, Phó Giám đốc Bệnh viện Tâm thần Hà Nội, áp lực công việc là trạng thái căng thẳng khi yêu cầu vượt quá khả năng thích nghi của cá nhân. Nếu kéo dài, tình trạng này có thể trở thành "stress độc hại", tổn hại nghiêm trọng về tinh thần. Nhiều người nghĩ stress chỉ là mệt mỏi tạm thời, song có thể dẫn đến rối loạn tâm thần. Stress do công việc thường diễn tiến qua 3 giai đoạn: Báo động, suy nhược và bệnh lý. Ở giai đoạn đầu, cơ thể phản ứng với áp lực bằng trạng thái căng thẳng kéo dài, người lao động dễ lo âu, khó tập trung, cáu gắt. Khi áp lực tiếp diễn, họ có thể rơi vào suy nhược, kiệt sức. Nếu không được can thiệp sẽ dẫn đến rối loạn lo âu lan tỏa, trầm cảm nặng hoặc các rối loạn dạng cơ thể như đau đầu, rối loạn tiêu hóa...
Nhận diện người được giám sát
Trong bối cảnh áp lực công việc ngày càng gia tăng, Bộ Y tế lần đầu đề xuất đưa những người chịu áp lực cao trong công việc, học tập và tài chính vào diện giám sát nguy cơ rối loạn tâm thần nhằm phát hiện sớm và phòng ngừa bệnh. Nội dung này được nêu trong dự thảo thông tư quy định chi tiết Luật Phòng bệnh đang được Bộ Y tế lấy ý kiến, dự kiến ban hành trong năm nay.
Thay vì chỉ tập trung điều trị khi bệnh đã biểu hiện, ngành y tế định hướng mở rộng hệ thống giám sát sang nhóm có nguy cơ cao để can thiệp sớm các vấn đề sức khỏe tinh thần. Theo dự thảo, đối tượng giám sát phòng chống rối loạn tâm thần gồm 3 nhóm: Người mắc rối loạn tâm thần; người tử vong do rối loạn tâm thần và người có nguy cơ mắc bệnh. Nhóm nguy cơ bao gồm những người có tiền sử mắc rối loạn tâm thần hoặc có ít nhất một yếu tố nguy cơ về sinh học, tâm lý hoặc xã hội. Các yếu tố này có thể là tiền sử gia đình mắc bệnh tâm thần, tổn thương não, mắc bệnh mạn tính, trải qua các giai đoạn sinh lý đặc biệt như dậy thì, sau sinh, tiền mãn kinh, tuổi già; stress kéo dài do mất người thân, ly hôn, thất nghiệp; nạn nhân bạo lực, tai nạn, thảm họa; hoặc sống trong môi trường thiếu hỗ trợ xã hội, bị kỳ thị, lạm dụng rượu bia và chất kích thích.
Dự thảo cũng nhấn mạnh nhóm chịu áp lực cao kéo dài trong học tập, lao động và kinh tế là đối tượng cần được theo dõi nguy cơ rối loạn tâm thần. Số liệu của Bộ Y tế cho thấy rối loạn tâm thần chiếm gần 15% dân số, tương đương cứ 7 người Việt thì có một người mắc, song phần lớn chưa được điều trị. Đáng lo ngại là tình trạng sức khỏe tâm thần ở lứa tuổi trẻ. Khảo sát sức khỏe tâm thần vị thành niên quốc gia năm 2022 ghi nhận 21,7% thanh thiếu niên cho rằng có vấn đề về sức khỏe tâm thần. Các bệnh như trầm cảm, rối loạn lưỡng cực, tâm thần phân liệt, tự kỷ hay sa sút trí tuệ không chỉ ảnh hưởng sức khỏe mà còn tạo gánh nặng kinh tế cho gia đình và xã hội.
Theo Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế), nội dung tăng cường chăm sóc sức khỏe tâm thần đang được đưa vào dự thảo Luật Phòng bệnh và tiếp tục được các nhà khoa học, chuyên gia góp ý trước khi hoàn thiện. Các chuyên gia cho rằng Việt Nam cần mở rộng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần, bảo đảm người dân có thể tiếp cận dễ dàng khi cần. Tuy nhiên, nhận thức của cộng đồng về các vấn đề tâm thần vẫn còn hạn chế, nhiều người e ngại hoặc kỳ thị người mắc bệnh. "Vì vậy, việc nâng cao hiểu biết của xã hội, giảm định kiến và khuyến khích người gặp khó khăn tâm lý tìm đến gia đình, bạn bè hoặc chuyên gia để được hỗ trợ được xem là yếu tố quan trọng trong phòng ngừa và điều trị" - một chuyên gia nhấn mạnh.
PGS-TS NGUYỄN VĂN TUẤN, Viện trưởng Viện Sức khỏe Tâm thần:
Nhìn ra thế giới
Các hệ thống phân loại bệnh quốc tế mới nhất như ICD-11 và DSM-5 đều ghi nhận nhiều rối loạn tâm thần liên quan stress. Trong đó, phổ biến là rối loạn lo âu lan tỏa, rối loạn hoảng sợ, ám ảnh sợ đặc hiệu (như sợ độ cao, sợ không gian kín, sợ phương tiện công cộng), rối loạn ám ảnh cưỡng chế với các hành vi lặp lại như kiểm tra khóa cửa, rửa tay nhiều lần. Một số trường hợp còn xuất hiện các triệu chứng cơ thể như đau nhức, mất tiếng, rối loạn giấc ngủ… dù thăm khám và xét nghiệm không phát hiện tổn thương thực thể. Tình trạng làm việc quá sức, thức đêm kéo dài hoặc môi trường làm việc căng thẳng có thể khiến các rối loạn này xuất hiện hoặc trở nên trầm trọng hơn.
BSCKII NGUYỄN NGUYỆT CẦU, Giám đốc Trạm Y tế phường Tân Định - TP HCM:
Phù hợp xu thế
Việc Bộ Y tế đề xuất đưa các yếu tố như áp lực học tập, áp lực công việc, stress kéo dài vào hệ thống giám sát nguy cơ rối loạn tâm thần là định hướng có cơ sở khoa học và phù hợp với xu thế y học dự phòng hiện đại. Cách tiếp cận này giúp chuyển từ phát hiện khi đã có bệnh sang nhận diện sớm nguy cơ và can thiệp kịp thời tại cộng đồng. Thực tế cho thấy các yếu tố stress tâm lý - xã hội ngày càng phổ biến và có liên quan chặt chẽ đến nhiều rối loạn tâm thần, đặc biệt ở học sinh, người lao động và các nhóm dễ bị tổn thương. Tại tuyến y tế cơ sở, việc triển khai hoàn toàn có thể lồng ghép vào các hoạt động hiện có như y tế học đường, quản lý bệnh không lây, khám sức khỏe định kỳ và truyền thông giáo dục sức khỏe. Điều này góp phần nâng cao tính toàn diện và liên tục trong chăm sóc sức khỏe ban đầu.
Tuy nhiên, để thực hiện hiệu quả, cần có bộ công cụ sàng lọc chuẩn hóa, dễ áp dụng; đồng thời, tăng cường tập huấn cho nhân viên y tế về kỹ năng nhận diện, tư vấn và chuyển tuyến. Bên cạnh đó, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa y tế với giáo dục và các ngành liên quan. Nếu được triển khai đồng bộ, đây sẽ là giải pháp quan trọng giúp giảm gánh nặng rối loạn tâm thần và nâng cao sức khỏe tinh thần cộng đồng.
D.Thu - H.Đào ghi