
Ê kíp chuẩn bị cho bệnh nhân u não xạ trị điều biến liều tại Bệnh viện Ung bướu TP Cần Thơ - Ảnh: BVCC
Ngày 16-10, thông tin từ khoa điều trị tia xạ, Bệnh viện Ung bướu TP Cần Thơ cho biết khoa đang áp dụng kỹ thuật xạ trị điều biến liều (IMRT). Theo các bác sĩ, phương pháp này nhằm đưa liều xạ phù hợp đến vùng cần điều trị, hạn chế ảnh hưởng đến mô lành xung quanh.
Kỹ thuật này là hướng tiếp cận góp phần nâng cao chất lượng điều trị, đặc biệt đối với những bệnh lý ung thư có tổn thương nằm gần các cấu trúc quan trọng như u não.
Mới đây, một trường hợp nữ bệnh nhân 17 tuổi, được chẩn đoán mắc u sao bào độ 4, đã được phẫu thuật và tiếp tục áp dụng xạ trị sau phẫu thuật bằng phương pháp điều biến liều và đem lại hiệu quả rất khả quan. Đây là một trường hợp điển hình cho thấy vai trò của kỹ thuật này đối với điều trị u não.
Theo bác sĩ Lê Hồ Nghĩa - Bệnh viện Ung bướu Cần Thơ - kỹ thuật IMRT là xạ trị điều biến liều, cho phép điều chỉnh cường độ của các chùm tia, tạo sự phân bố liều phù hợp với hình dạng và vị trí của vùng cần điều trị.
Đối với u não, việc cân đối giữa liều điều trị và bảo vệ các cấu trúc thần kinh là yêu cầu đặc biệt quan trọng. IMRT sẽ giúp bác sĩ tối ưu kế hoạch điều trị theo đặc điểm của từng người bệnh. Hướng đến kiểm soát bệnh và hạn chế tác dụng không mong muốn sau xạ trị.
Xạ trị kỹ thuật IMRT - giảm nguy cơ tái phát tại vùng điều trị.
Có thể hiểu đơn giản, tùy theo loại bệnh và từng bệnh nhân khác nhau, bác sĩ xây dựng kế hoạch xạ trị để vùng tổn thương nhận liều xạ theo chỉ định, hạn chế liều tác động đến các mô lành lân cận. Khả năng điều chỉnh, phân bố liều rất quan trọng khi điều trị những khối u có hình dạng phức tạp hoặc nằm gần cơ quan cần được bảo vệ.
Với u não ác tính, hay một số khối u khác, phẫu thuật có thể chưa loại bỏ hoàn toàn các tế bào u. Vì vậy bác sĩ sẽ chỉ định xạ trị để tác động đến các tế bào u còn lại, góp phần kiểm soát bệnh và giảm nguy cơ tái phát tại vùng điều trị.

Dùng kỹ thuật xạ trị điều biến liều, tia xạ sẽ tác động trực tiếp vào các tế bào u còn lại sau phẫu thuật, bảo vệ mô lành xung quanh - Ảnh: BVCC
Cũng theo bác sĩ Lê Hồ Nghĩa "sau phẫu thuật u não, cũng như một số loại u khác nhiều người bệnh cần tiếp tục điều trị xạ trị hay hóa xạ trị. Việc chỉ định được cân nhắc dựa trên kết quả giải phẫu bệnh sau mổ, phương pháp phẫu thuật và tình trạng sức khỏe của bệnh nhân. Chúng tôi mong muốn người bệnh, gia đình hiểu rõ phương pháp để cùng phối hợp trong quá trình điều trị".
Đối với xạ trị điều biến liều, đặc biệt ở vùng đầu, trang bị mặt nạ cố định sẽ giúp giữ tư thế ổn định và hỗ trợ tái lập vị trí giữa các buổi xạ trị. Nhân viên y tế sẽ hướng dẫn người bệnh cách phối hợp trong quá trình xạ trị, giúp kế hoạch diễn ra thuận lợi.
Mong muốn người bệnh tiếp cận kỹ thuật xạ trị hiện đại tại địa phương
"Với người bệnh nhất là người trẻ như cô gái 17 tuổi, trong quá trình điều trị xạ trị cần được quan tâm cả sức khỏe thể chất và tâm lý. Gia đình cần phối hợp theo dõi lịch trình điều trị, chuẩn bị bữa ăn, trao đổi với bác sĩ khi nhận thấy người bệnh ăn uống kém, mệt nhiều, buồn nôn, đau đầu hoặc có thay đổi bất thường về tâm lý. Những thông tin này giúp bác sĩ theo dõi và hỗ trợ", bác sĩ Lê Hồ Nghĩa lưu ý.
Từ trường hợp bệnh nhân u não, có thể thấy việc điều trị thành công cần sự kết hợp kỹ thuật phù hợp, xây dựng kế hoạch điều trị liên tục cho từng người bệnh. Hiện tại, người bệnh này đang tiếp tục liệu trình theo chỉ định, với kết quả đáp ứng ban đầu khá khả quan và sẽ được đánh giá sau tái khám.
Trong xu hướng điều trị sắp tới, lãnh đạo Bệnh viện Ung bướu TP Cần Thơ cho biết sẽ tiếp tục việc ứng dụng IMRT tại bệnh viện, nhằm giúp người dân Đồng bằng sông Cửu Long tiếp cận kỹ thuật xạ trị hiện đại ngay tại địa phương.
Với những liệu trình kéo dài, xạ trị theo kỹ thuật IMRT sẽ giúp người bệnh ung thư kiểm soát bệnh tốt hơn, nâng cao chất lượng cuộc sống. Nếu được điều trị gần nơi sinh sống, sẽ giúp gia đình thuận tiện hơn trong đi lại và chăm sóc người bệnh.
Link nội dung: https://suckhoevasacdep.com.vn/benh-nhan-u-nao-duoc-ung-dung-xa-tri-dieu-bien-lieu-tai-can-tho-11681.html